NẠO HẠCH CHẬU TRONG PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TRỰC TRÀNG LẦN ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM THÀNH CÔNG

25/03/2020 15:09:00

Khoa Ngoại tiêu hóa Bệnh viện Đại học Y Dược triển khai thành công kỹ thuật Nạo hạch chậu trong phẫu thuật điều trị ung thư trực tràng. Đây là kỹ thuật tiên tiến lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam, giúp giảm rõ rệt tỷ lệ tái phát tại chỗ, đem lại lợi ích thiết thực cho người bệnh. Kết quả điều trị ban đầu rất khả quan khi tỷ lệ thành công cao và không có trường hợp nào để lại tai biến biến chứng. Thời gian mổ trung bình 60-80 phút khi nạo hạch chậu bên và ngày càng được rút ngắn. Có 70% trường hợp kết quả thử có tế bào ung thư trong hạch chậu này.

Người bệnh ung thư trực tràng, sau khi nhập viện sẽ được làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết. Sau đó, các chuyên gia về ung thư học sẽ cùng hội chẩn để đưa ra kế hoạch điều trị ngay tức thì và lâu dài cho người bệnh. Bên cạnh đó, các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh phối hợp phẫu thuật viên đánh giá tình trạng di căn hạch chậu, từ đó chỉ định phẫu thuật.

Hai trường hợp điển hình đã được điều trị thành công nhờ kỹ thuật tiên tiến này. Trường hợp đầu tiên là người bệnh nữ Đào Thị T., 46 tuổi, ngụ tại Tiền Giang đã được mổ ung thư trực tràng 2 năm. Lần này tái khám phát hiện khối hạch di căn rất lớn (50mm) vùng chậu bên trái. Trên phim chụp cũ của người bệnh đã có hạch chậu 8mm và không được phẫu thuật. Bình thường trường hợp này sẽ được chỉ định hóa trị tiếp nhưng cơ may triệt để là không còn. Tuy nhiên, ê kíp bác sĩ Khoa Ngoại Tiêu Hóa quyết định phẫu thuật nội soi nạo hạch chậu bên trái cho người bệnh, giúp lấy trọn các tế bào ung thư còn sót lại. Người bệnh có thêm được một cơ hội điều trị triệt để.

Trường hợp khác là người bệnh nam Trịnh Trung H., ngụ tại TPHCM chỉ mới 37 tuổi, phát hiện ung thư trực tràng. U tuy rất nhỏ (<1cm) nhưng đã cho di căn hạch chậu trái (2 khối 25-30mm). Sau khi hội chẩn ung thư, ê kíp bác sĩ khoa Ngoại Tiêu Hóa quyết định cắt u trực tràng kèm nạo hạch chậu trái cho người bệnh. Kết quả xét nghiệm cho thấy có tế bào ung thư di căn đến hạch chậu này. Nhờ kỹ thuật tiên tiến nạo hạch chậu giúp gia tăng hiệu quả điều trị cho người bệnh.
Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh lí thường gặp và có tỉ lệ tử vong cao trên thế giới, chiếm 9% tần suất các loại ung thư. Ở Việt Nam, ung thư đại trực tràng đứng trong top 5 bệnh ung thư thường gặp.

Việt Nam là nước có tỉ lệ ung thư đại trực tràng tương đối cao, đứng hàng thứ hai trong các bệnh lý ác tính đường tiêu hoá và là vấn đề lớn đối với sức khoẻ cộng đồng. Theo một nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, tần suất ung thư đại trực tràng 14,8/100.000 dân ở nam và tần suất này ở nữ là 10/100.000 dân. Một nghiên cứu khác tại Hà Nội cho thấy tỉ lệ này lần lượt ở nam và nữ là 9,5 và 6,4.

Theo báo cáo của tổ chức Y Tế Thế Giới thực hiện năm 2012 tại Việt Nam thì tỉ lệ ung thư đại trực tràng là 11,47/100.000 dân đối với nam, tỉ lệ này ở nữ là 6,11/100.000 dân, Trong đó, trực tràng là vị trí ung thư thường gặp nhất trên toàn bộ khung đại tràng, chiếm khoảng 20%-40%.
Độ tuổi mắc bệnh của ung thư đại trực tràng thường là tuổi trung niên và tuổi già, tần suất cao nhất trong độ tuổi 60-70 tuổi. Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho thấy ung thư đại trực tràng vẫn gặp ở người trẻ với tỉ lệ mắc bệnh trung bình khoảng 2%-10%. Ung thư đại trực tràng ở người trẻ thường có độ ác tính cao và tiên lượng xấu hơn so với người lớn tuổi.

Thống kê tại Bệnh viện Đại học Y Dược, mỗi năm có khoảng 300 trường hợp ung thư trực tràng được phẫu thuật, trong đó người bệnh dưới 40 tuổi chiếm khoảng 8%.
Đối với ung thư trực tràng, hầu hết các trường hợp được phát hiện ở giai đoạn II, III (U phát triển khỏi lớp niêm mạc, nhưng chưa di căn xa hay xâm lấn vùng chậu). Các trường hợp này, tế bào ung thư đã phát triển tới các chặng hạch vùng (hạch nằm trong mạc treo kế cận). Di căn hạch mạc treo đã được báo cáo từ lâu vào khoảng 15% các trường hợp. Rất ít trường hợp được phát hiện ở giai đoạn I. Các tình huống phát hiện muộn trong K trực tràng thường gặp như: (1) u ăn lan và xâm lấn các tạng trong vùng chậu; (2) u di căn gan; (3) u di căn phổi; và (4) u di căn lan tràn trong ổ bụng.
Như tất cả các loại ung thư khác, ung thư trực tràng cần phải được tầm soát và phát hiện sớm. Các đối tượng nguy cơ như lớn tuổi, đi cầu ra máu, gia đình có người thân ung thư đại trực tràng hay u nhú lành tính của đại trực tràng. Việc tầm soát ung thư trực tràng khá đơn giản khi chỉ cần nội soi đại tràng là có thể phát hiện được. Phát hiện sớm giúp tăng khả năng điều trị triệt để.

Các tiến bộ trong điều trị ung thư trực tràng: PTNS nạo hạch chậu bên

Năm 1982, một dấu mốc lịch sử khi mô tả được mạc treo trực tràng. Kĩ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (hay TME) được áp dụng rộng rãi đến ngày ngay và trở thành phẫu thuật tiêu chuẩn, giúp giảm tái phát tại chỗ lên đến 5 lần. Các tác giả Nhật Bản nghiên cứu cho thấy ung thư trực tràng có thể cho di căn hạch chậu đối với ung thư trực tràng giai đoạn 2-3, với tần suất là 15%. Vì thế phẫu thuật TME kèm nạo hạch chậu (lateral pelvic lymph node dissection – LPLD) đã trở thành phẫu thuật tiêu chuẩn điều trị ung thư trực tràng tại Nhật giúp làm giảm tỉ lệ tái phát tại chỗ. Trong giai đoạn thập kỉ 1990s và 2000s, kĩ thuật nạo hạch chậu bên sử dụng rộng rãi Nhật Bản với phương pháp mổ mở. Đặc điểm kĩ thuật này là tỉ lệ tai biến – biến chứng còn cao.

Cũng trong giai đoạn này, các báo cáo tại Châu Âu và Bắc Mỹ cho kết quả không đồng nhất rằng sử dụng hóa-xạ trị hỗ trợ cũng cho kết quả tương tự so với có nạo hạch chậu. Điều khó khăn từ các dân số không tương đồng nên không thể so sánh. Vì vậy phẫu thuật nạo hạch chậu vẫn chưa được đồng thuận rộng rãi.

Có hai điểm mới trong thập kỉ 2010s: thứ nhất là sự phát triển vượt bậc của phẫu thuật nội soi giúp trường quan sát rộng hơn (ở đây là vùng chậu) thuận tiện hơn, thứ hai là các nghiên cứu so sánh (ở cả Nhật Bản và phương Tây) bước đầu cho kết quả tốt hơn nếu TME + LPLD so với TME truyền thống. Vì vậy phẫu thuật nội soi nạo hạch chậu bên (laparoscopic lateral pelvic lymph node dissection-LLPLD) được ứng dụng nhiều hơn.

Việt Nam chưa từng áp dụng kĩ thuật này trong điều trị ung thư trực tràng. Tại Bệnh viện Đại học Y Dược, trong giai đoạn chuẩn bị hơn 1 năm trước đây, khoa Ngoại tiêu hóa bên cạnh nghiên cứu về y văn quốc tế, tổ chức hội thảo với chuyên gia từ Nhật Bản, xây dựng các quy trình từ chọn lựa người bệnh, chẩn đoán, phẫu thuật và chăm sóc sau mổ. Từ đầu 2017, Bệnh viện Đại học Y Dược chính thức đưa vào ứng dụng kĩ thuật này.

Nguồn: Theo Doanh nhân & Đời sống

Các tin đã đăng