Các bệnh tim bẩm sinh thường gặp

03/09/2020 10:22:00


1. 
Thông liên thất (TLT)

Thông liên thất là bệnh tim bẩm sinh thường gặp nhất trong tất cả các bệnh tim bẩm sinh chiếm 15-20% tất cả các bệnh tim bẩm sinh.

Là một khiếm khuyết của vách ngăn giữa hai buồng tâm thất của tim, tạo ra sự thông thương giữa hai buồng tâm thất. Lỗ thông này cho phép dòng máu lưu thông từ thất trái qua thất phải (vì áp lực thất trái cao hơn áp lực thất phải), làm tăng lưu lượng máu từ thất phải lên phổi. Tình trạng này gây ứ máu ở phổi, làm trẻ dễ bị viêm phổi, suy tim, khó thở, ăn uống kém dẫn đến suy dinh dưỡng. Nếu tình trạng ứ máu kéo dài thêm sẽ làm áp lực động mạch phổi tăng, không thể điều trị được.

Các trường hợp TLT cần phải được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật hoặc can thiệp đúng thời điểm. Một số lỗ thông liên thất có thể tự đóng, nhưng cần được theo dõi sát và phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.

2. 
Thông liên nhĩ (TLN)

Thông liên nhĩ được phát hiện 1/1500 trẻ sinh ra sống. TLN chiếm đến 30-40% tổng số bệnh tim bẩm sinh. TLN lỗ nguyên phát chiếm 7% tổng số bệnh tim bẩm sinh. Bệnh xảy ra nhiều ở nữ, tỷ lệ nam/nữ là 1:2.

Giống như thông liên thất, TLN là khiếm khuyết của vách ngăn giữa hai buồng tâm nhĩ. Dị tật này cũng làm tăng lượng máu lên phổi gây ứ máu ở phổi, tương tự như dị tật TLT. Thông liên nhĩ ở trẻ em thường không có triệu chứng và được phát hiện trễ. Hiện nay, siêu âm tim tiền sản hoặc siêu âm tim sau sinh có thể phát hiện sớm dị tật TLN.

TLN có thể điều trị bằng can thiệp hoặc phẫu thuật (nội soi, robot). Một số thông liên nhĩ có thể tự đóng.



3. 
Còn ống động mạch

Ống động mạch là một cấu trúc bẩm sinh nối thân động mạch phổi và động mạch chủ xuống. Bình thường sau khi sinh ống động mạch sẽ đóng lại. Nếu ống động mạch không đóng lại, trẻ sẽ bị dị tật còn ống động mạch.

Dị tật này cho phép máu pha trộn giữa động mạch phổi và động mạch chủ, làm tăng lưu lượng máu lên phổi, dần dần gây tăng áp phổi. Bệnh có thể điều trị bằng thuốc (đối với trẻ sơ sinh thiếu tháng) hoặc can thiệp bít ống động mạch.

4. 
Tứ chứng Fallot

Là dị tật bao gồm 4 bất thường: hẹp đường ra thất phải, thông liên thất, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách liên thất, phì đại thất phải. Các trẻ mắc bệnh tứ chứng Fallot thường bị tím (tứ chi, môi, niêm mạc mắt…), cơn tím ngất, suy dinh dưỡng, rối loạn đông máu, thuyên tắc não, ảnh hưởng đến tâm vận của trẻ…

Dị tật tứ chứng Fallot cần được điều trị bằng phẫu thuật. Gia đình nên cho bé khám để được tư vấn và chỉ định phẫu thuật kịp thời, đúng thời điểm giúp trẻ được phát triển toàn diện.



5. 
Bất thường van tim

Một số trẻ sơ sinh bị hở van tim, hẹp van tim hoặc teo van bẩm sinh. Van tim đóng vai trò điều tiết sự lưu thông máu trong cơ thể. Các bất thường van tim gây ảnh hưởng đến chức năng điều tiết của van tim, dẫn đến lưu lượng máu đi nuôi cơ thể thay đổi gây thiếu máu, máu không đủ oxy hoặc tăng áp lực lên buồng tim.
Trẻ có các bất thường van tim cần điều trị sớm được bằng can thiệp hoặc phẫu thuật.

Với sự phát triển của trình độ y tế Việt Nam ngày nay, các bệnh tim bẩm sinh trên đều có thể được phẫu thuật hoặc can thiệp để điều trị và mang lại cuộc sống bình thường cho trẻ sau khi điều trị. Trung tâm tim mạch – Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM đã điều trị thành công các bệnh tim bẩm sinh trên ở giai đoạn sớm sau sinh và có tỷ lệ thành công trên 95%.

Theo Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM

 

Các tin đã đăng