Bệnh nhiễm virut zika: những điều cần biết

Virut Zika và dịch tễ học
Virut Zika được phân lập từ loài khỉ Macaca muletta của Uganda vào năm 1947. Virut lấy tên của khu rừng Zika, nơi đầu tiên phát hiện virut này.
 

Virut Zika là một virut RNA (arbovirus) thuộc chi Flavivirus, họ Flaviviridae, lây truyền qua vết chích của muỗi Aedes bị nhiễm. Virut có dạng hình cầu, có vỏ bọc, đường kính khoảng 50 nm. Vật chủ trung gian truyền bệnh là muỗi vằn Aedes aegypti, thường đốt người vào buổi sáng sớm và chiều muộn/tối. Ổ chứa bệnh trong tự nhiên của virut Zika có thể là các loài linh trưởng và một số loài gậm nhấm.
 

Virut Zika gây bệnh nhiễm virut Zika, hay còn gọi là bệnh sốt Zika. Từ năm 1951 đến năm 1981, bệnh này đã gây ra một số vụ dịch ở các vùng nhiệt đới của châu Phi (Cộng hòa Trung Phi, Ai Cập, Gabon, Sierra Leone, Tanzania và Uganda) và châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan). Năm 2013, bệnh lan về phía Đông qua Thái Bình Dương đến Polynesia thuộc Pháp với 8.750 trường hợp nghi ngờ và 383 trường hợp được xác định, tiếp đến đảo Phục sinh (Chile), cho thấy khả năng lây lan dịch trong cả vùng Thái Bình Dương ngoài khu vực địa lý thông thường của loài arbovirus này là vùng châu Phi và Đông Nam Á. Đến năm 2015, lan qua các quốc gia châu Mỹ (Brazil, Venezuela, Panama, Colombia, Paraguay, Mexico, El Salvador, Guatemala…) và một số vùng của châu Phi. Tại châu Mỹ, hiện tại dịch sốt Zika đã đạt đến cấp đại dịch, Brazil là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất với hơn 1.500.000 người mắc bệnh (0,72% dân số).
 

Ngày 02/02/2016, WHO ban bố Tình trạng Khẩn cấp Y tế Công cộng Quốc tế về virut Zika, được đặt cùng hạng mục với Ebola. Ngày 25/02/2016, WHO ra thông báo virut Zika đã lây lan tới 42 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với 130 nước có loài muỗi Aedes mang loại virut này, khiến nguy cơ virut Zika lan rộng là rất lớn. Triệu chứng lâm sàng và biến chứng Thời gian ủ bệnh (từ lúc nhiễm cho đến lúc bộc lộ triệu chứng) vẫn chưa được biết rõ ràng, có thể là vài ngày. Triệu chứng tương tự như trong các bệnh nhiễm arbovirus khác (ví dụ sốt xuất huyết dengue), bao gồm sốt, ban ở da, viêm kết mạc (mắt đỏ), đau cơ khớp, mệt mỏi, đau đầu. Các triệu chứng thường ở mức độ nhẹ và kéo dài khoảng 2-7 ngày.
 

Trong các trận dịch lớn tại quần đảo Polynesia thuộc Pháp (2013) và Brazil (2015), các nhà nghiên cứu đã nêu lên quan ngại về các các biến chứng thần kinh và tự miễn của bệnh nhiễm virut Zika, như là hội chứng Guillain–Barré và các biến chứng tự miễn trên hệ thần kinh. Trong hội chứng Guillain-Barré, có các rối loạn cảm giác ở nhiều cấp độ và có thể mất hẳn cảm giác ở chân tay và phần trên cơ thể, người bệnh có thể bị liệt hoàn toàn. Một biến chứng nặng khác là chứng đầu nhỏ (microcephaly): năm 2015 ở Brazil có khoảng 1.300 trường hợp trẻ sơ sinh mắc chứng đầu nhỏ, tăng hơn 20 lần so với giai đoạn 5 năm trước đó (từ năm 2010 đến năm 2014).
Các bác sĩ Brazil đã phân lập được RNA của virut trong dịch ối của phụ nữ mang thai mắc bệnh đầu nhỏ và cho rằng bào thai của phụ nữ bị nhiễm virut Zika trong 3 tháng đầu của thai kỳ có nguy cơ cao của chứng đầu nhỏ, cũng đã phát hiện được RNA của virut trong máu và mô những trẻ sơ sinh mắc chứng này. Chính vì vậy nhiều nước như El Salvador, Colombia, Ecuador khuyến cáo phụ nữ không nên mang thai và sinh con trong giai đoạn virut Zika đang hoành hành, và chỉ nên sinh con sau năm 2018.
 


 


 

Đường lây truyền
Virut Zika lây truyền từ người sang người khi bị muỗi cắn, chủ yếu là loại muỗi vằn Aedes aegypti ở những vùng nhiệt đới. Loại muỗi này cũng là trung gian truyền các loại bệnh sốt xuất huyết dengue, chikungunya và sốt vàng da. Khi muỗi hút máu người hay động vật bị nhiễm virut Zika, virut sẽ nhân lên trong cơ thể muỗi và ủ bệnh sau 10 ngày có thể lây truyền virut cho người hay động vật khác. Một cá thể muỗi nhiễm virut Zika có thể truyền virut cho các thế hệ muỗi con cháu. Sự phân bố của muỗi Aedes aegypti bây giờ được ghi nhận là rộng lớn nhất ở hầu khắp các châu lục, kể cả Bắc Mỹ và ngoại vi châu Âu.
 

Các đường lây truyền khác:

  • Từ mẹ sang thai nhi: năm 2015 đã phát hiện được RNA của virut Zika trong dịch ối của hai phụ nữ khi sinh con và năm 2016 ở Brazil đã phát hiện virut Zika trong nhau thai của một phụ nữ bị sẩy thai mắc chứng đầu nhỏ, những điều này chứng tỏ virut đã vượt qua nhau thai và có thể lây truyền dọc từ mẹ sang con.
  • ARN của virut Zika cũng đã được phát hiện trong máu, nước tiểu, tinh dịch, dịch não tủy, dịch ối và sữa mẹ.
    Lây truyền qua đường tình dục đã được chứng minh, bởi vậy những người đàn ông trở về từ vùng dịch được khuyến cáo ngừng quan hệ tình dục hoặc phải dùng bao cao su trong một thời gian (chưa xác định).
    Lây truyền virut Zika qua đường truyền máu hoặc các sản phẩm từ máu hoặc lây truyền qua đường sữa mẹ vẫn còn là những nghi vấn lớn mặc dù hiện tại vẫn chưa có những bằng chứng chắc chắn. Do đó chưa có khuyến cáo các người bệnh nhiễm virut Zika cần ngừng cho con bú.
 

Chẩn đoán
Bệnh nhiễm virut Zika được chẩn đoán nhanh bằng phản ứng PCR (polymerase chain reaction) và phân lập virut trong mẫu máu. Chẩn đoán huyết thanh học có thể cho kết quả sai lệch do virut cho phản ứng chéo với các loài virut khác như sốt xuất huyết dengue, virut West Nile và virut gây sốt vàng.
 

Điều trị
Bệnh nhiễm virut Zika thường nhẹ và không có điều trị đặc hiệu.
 

Các biện pháp điều trị hỗ trợ gồm nghỉ ngơi đầy đủ, uống nhiều nước, điều trị hạ sốt và giảm đau nếu cần thiết. Các trường hợp nặng cần nhập viện để được theo dõi.
 

Phòng bệnh
Cho đến nay muỗi là trung gian truyền bệnh duy nhất được biết, do vậy các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh nhiễm virut Zika tập trung chủ yếu vào việc diệt muỗi (nguồn lây truyền) và phòng muỗi đốt (ngăn chặn sự lây truyền).
 

Các biện pháp thông dụng chống muỗi đốt: mặc quần áo sáng màu, mang tất tay và chân để che kín cơ thể hoặc sử dụng các loại thuốc thoa chống muỗi đốt; đối với nhà dân thì sử dụng các loại cửa sổ lưới chống muỗi, thường xuyên đóng kín cửa; trang bị đủ các loại mùng chống muỗi khi ngủ. Các biện pháp diệt muỗi gồm che, đậy kín, kỹ các nơi chứa nước sinh hoạt; hoặc chú ý đổ/làm sạch các vật dụng có thể chứa nước đọng (ví dụ vỏ xe hơi không dùng đến, hay thậm chí là một cái bình bông bể để ở góc nhà, gáo dừa để trong sân…) là những nơi muỗi có thể sinh đẻ. Cần quan tâm chú ý đến những đối tượng chưa/hoặc không có khả năng tự bảo vệ như trẻ nhỏ, người lớn tuổi hoặc người bệnh.
 

Trong các vụ dịch, chính quyền có thể sử dụng các biện pháp diệt muỗi trên phạm vi rộng như phun xịt hóa chất diệt muỗi.
 

Hiện chưa có vắc-xin phòng bệnh đặc hiệu. Mới đây, hãng Dược phẩm Sanofi (Pháp) và hãng Bharat Biotech (Ấn độ) đã bắt đầu các dự án phát triển các vắc-xin ngừa virut Zika.
 

Một phương pháp khác: dùng muỗi biến đổi gen để ngăn ngừa virut Zika lây lan, được tiến hành tại nhiều địa điểm của châu Mỹ La tinh và châu Á. Kết quả cho thấy quần thể muỗi tự nhiên giảm số lượng đến 90%.
 

ThS BS Huỳnh Minh Tuấn

Scroll To Top