- Current
Phiếu thông tin bệnh bướu giáp nhân lành tính
11/07/2024 09:00:00
I. ĐỊNH NGHĨA
- Bướu giáp lành tính là những khối u (bướu) chứa đầy chất rắn hoặc chất lỏng hình thành trong tuyến giáp - một tuyến nhỏ nằm trước vùng cổ, ngay trên xương ức. Hầu hết các khối u tuyến giáp là lành tính nhưng có khoảng 5% là ác tính (ung thư tuyến giáp).
II. NGUYÊN NHÂN
- Do thiếu iod (bướu giáp dịch tễ) thường do nước uống trong vùng bị thiếu iod, tuy nhiên có nhiều vùng trên thế giới không thiếu iod ngay cả vùng thừa iod vẫn có thể bị bướu giáp dịch tễ, ngoài ra không phải tất cả người sống ở vùng thiếu iod đều bị bướu giáp đơn thuần
- Do tác dụng của các chất làm phì đại tuyến giáp: Một số loại thức ăn như quả su có chứa những chất làm lớn tuyến giáp, giải thích sự xuất hiện bướu giáp dịch tễ ở một số vùng. Ngoài ra một số chất như thiocyanat, acid para-amino-salicylic (PAS), muối lithium, cobalt, thuốc kháng giáp tổng hợp có thể gây bướu giáp đơn thuần.
III. DỊCH TỄ HỌC
- Nhân giáp là bệnh rất phổ biến trên thế giới cũng như ở nước ta. Tỷ lệ phát hiện nhân giáp từ 20% – 76% trong cộng đồng
- Nhân giáp thường gặp ở người lớn, nữ gấp 4 lần so với nam, tần suất bướu giáp nhân tăng theo tuổi và gặp nhiều ở vùng có thiếu hụt iod.
IV. TRIỆU CHỨNG
- Bệnh thường không có triệu chứng. Bướu giáp có thể do người bệnh hoặc người xung quanh phát hiện, hoặc được phát hiện khi khám sức khỏe tổng quát.
- Bướu lớn có thể gây các dấu hiệu chèn ép cơ quan xung quanh như:
- Bướu giáp lành tính là những khối u (bướu) chứa đầy chất rắn hoặc chất lỏng hình thành trong tuyến giáp - một tuyến nhỏ nằm trước vùng cổ, ngay trên xương ức. Hầu hết các khối u tuyến giáp là lành tính nhưng có khoảng 5% là ác tính (ung thư tuyến giáp).
II. NGUYÊN NHÂN
- Do thiếu iod (bướu giáp dịch tễ) thường do nước uống trong vùng bị thiếu iod, tuy nhiên có nhiều vùng trên thế giới không thiếu iod ngay cả vùng thừa iod vẫn có thể bị bướu giáp dịch tễ, ngoài ra không phải tất cả người sống ở vùng thiếu iod đều bị bướu giáp đơn thuần
- Do tác dụng của các chất làm phì đại tuyến giáp: Một số loại thức ăn như quả su có chứa những chất làm lớn tuyến giáp, giải thích sự xuất hiện bướu giáp dịch tễ ở một số vùng. Ngoài ra một số chất như thiocyanat, acid para-amino-salicylic (PAS), muối lithium, cobalt, thuốc kháng giáp tổng hợp có thể gây bướu giáp đơn thuần.
III. DỊCH TỄ HỌC
- Nhân giáp là bệnh rất phổ biến trên thế giới cũng như ở nước ta. Tỷ lệ phát hiện nhân giáp từ 20% – 76% trong cộng đồng
- Nhân giáp thường gặp ở người lớn, nữ gấp 4 lần so với nam, tần suất bướu giáp nhân tăng theo tuổi và gặp nhiều ở vùng có thiếu hụt iod.
IV. TRIỆU CHỨNG
- Bệnh thường không có triệu chứng. Bướu giáp có thể do người bệnh hoặc người xung quanh phát hiện, hoặc được phát hiện khi khám sức khỏe tổng quát.
- Bướu lớn có thể gây các dấu hiệu chèn ép cơ quan xung quanh như:
+ Chèn ép khí quản gây khó thở.
+ Chèn ép dây thần kinh quặt ngược thanh quản gây nói khó, nói khàn.
+ Chèn ép tĩnh mạch chủ trên gây phù kiểu áo khoác: phù ở mặt, cổ, lồng ngực, hai tay.
V. CHẨN ĐOÁN
1. Lâm sàng
- Khám tuyến giáp nếu tuyến giáp lớn có thể thấy ở giữa cổ, ranh giới rõ, không dính vào da, tuyến lớn lan tỏa hoặc dạng nốt, di động theo nhịp nuốt, không đau. Một tuyến giáp có thể tích bình thường không bao giờ sờ thấy dù người bệnh gầy.
- Khám lâm sàng, kết hợp nhìn và sờ nắn. Người khám có thể đứng phía sau người bệnh, dùng hai tay để sờ tuyến giáp. Khi sờ cần định rõ ranh giới, độ lớn, mật độ của bướu, cùng lúc cho người bệnh nuốt, bướu sẽ di động theo nhịp nuốt.
- Sau khi sờ bướu giáp, có thể dùng thước dây đo vòng cổ của người bệnh, đo ngang qua nơi tuyến giáp lớn nhất, giúp theo dõi diễn biến qua điều trị.
2. Cận lâm sàng
- Siêu âm tuyến giáp: Siêu âm tuyến giáp là thăm dò hữu ích trong đánh giá tuyến giáp, giúp đánh giá hình thái và độ lớn tuyến giáp. Siêu âm cho biết số lượng, hình dạng nhân, đồng thời giúp hướng dẫn chọc hút bằng kim nhỏ để chẩn đoán tế bào học. Siêu âm giúp theo dõi sau điều trị.
- Chụp cắt lớp vi tính vùng cổ-ngực: không áp dụng thường quy cho tất cả trường hợp. Chỉ định trong trường hợp bướu giáp thòng, lạc chỗ trong ngực, hoặc nghi ngờ có chèn ép đường thở, hạch vùng cổ mà siêu âm không khảo sát được.
- Xét nghiệm chức năng tuyến giáp: TSH, T3, T4
- Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA): FNA là phương pháp hiệu quả nhất trong chẩn đoán bản chất của một nhân giáp. Thực hiện FNA dưới hướng dẫn siêu âm cho độ chính xác và an toàn cao
3. Chẩn đoán phân biệt:- Sau khi sờ bướu giáp, có thể dùng thước dây đo vòng cổ của người bệnh, đo ngang qua nơi tuyến giáp lớn nhất, giúp theo dõi diễn biến qua điều trị.
2. Cận lâm sàng
- Siêu âm tuyến giáp: Siêu âm tuyến giáp là thăm dò hữu ích trong đánh giá tuyến giáp, giúp đánh giá hình thái và độ lớn tuyến giáp. Siêu âm cho biết số lượng, hình dạng nhân, đồng thời giúp hướng dẫn chọc hút bằng kim nhỏ để chẩn đoán tế bào học. Siêu âm giúp theo dõi sau điều trị.
- Chụp cắt lớp vi tính vùng cổ-ngực: không áp dụng thường quy cho tất cả trường hợp. Chỉ định trong trường hợp bướu giáp thòng, lạc chỗ trong ngực, hoặc nghi ngờ có chèn ép đường thở, hạch vùng cổ mà siêu âm không khảo sát được.
- Xét nghiệm chức năng tuyến giáp: TSH, T3, T4
- Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA): FNA là phương pháp hiệu quả nhất trong chẩn đoán bản chất của một nhân giáp. Thực hiện FNA dưới hướng dẫn siêu âm cho độ chính xác và an toàn cao
Bướu giáp đơn cần phân biệt với:
- Bệnh Basedow: cần định lượng kháng thể đặc hiệu của Basedow để phân biệt.
- Bệnh Hashimoto: cần xét nghiệm kháng thể đặc hiệu của bệnh Hashimoto.
- Ung thư tuyến giáp: xác định chẩn đoán ung thư tuyến giáp với xét nghiệm tế bào học.
VI. ĐIỀU TRỊ
- Trường hợp bướu giáp nhỏ, không có triệu chứng lâm sàng: chỉ cần theo dõi định kỳ bằng khám lâm sàng và siêu âm tuyến giáp. Sự phát triển tuyến giáp rất khác nhau ở mỗi người bệnh, một số trường hợp bướu giáp ổn định trong nhiều năm.
1. Điều trị thuốc Levothyroxine (LT4)
- LT4 không được khuyến cáo điều trị cho các nhân giáp lành tính hay phòng ngừa tái phát nhân giáp sau phẫu thuật
- Ở vùng dịch tễ thiếu iod, có thể bổ sung iod và/hoặc điều trị LT4 cho những BN trẻ có nhân giáp nhỏ mà TSH bình thường/cao
2. Điều trị phẫu thuật
- Khi nhân giáp gây triệu chứng chèn ép
- Nghi ngờ ung thư tuyến giáp trên siêu âm mà FNA lành tính
- FNA nghi ngờ hoặc xác định ung thư giáp
- Bướu giáp thòng trung thất hoặc bướu giáp lạc chổ
3. Nhiệt trị liệu dưới hướng dẫn siêu âm (RFA)
- Điều trị nhân giáp lành tính dạng đặc, hỗn hợp mà kích thước lớn dần, có triệu chứng hay gây mất thẩm mỹ.
- Làm FNA ít nhất 2 lần trước khi điều trị huỷ bướu bằng nhiệt
VII. THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ BẰNG SÓNG CAO TẦN (RFA)
- Tại phòng mổ: theo dõi tình trạng đau vùng cổ, các biến chứng của thủ thuật.
- Có thể xuất viện trong ngày sau thủ thuật, khi bệnh nhân hết tác dụng của thuốc tê.
- Tái khám: 1-2 tuần sau thủ thuật, 3 tháng và mỗi 6 tháng.
VIII. BIẾN CHỨNG
- Đau tại ví trí chọc kim
- Thay đổi giọng: có thể do tổn thương thần kinh quặt ngược thanh quản. Tổn thương thần kinh có thể phục hồi với điều trị kháng viêm.
- Phù nề vùng cổ
- Tụ máu vùng can thiệp
- Bỏng da
- Thủng thực quản, khí quản, mạch máu lớn vùng cổ: là biến chứng nặng nhưng rất hiếm gặp. Cần mổ hở để xử lý biến chứng.
IX. CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG
- Đối với bướu giáp nhân lành tính hầu như không có chế độ dinh dưỡng đặc biệt
- Trường hợp sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp, cần xạ trị Iod bổ trợ, nên kiêng các loại thực phẩm nhiều Iod như: đậu nành, rau câu, rong biển…
Các tin đã đăng
- Phiếu tóm tắt thông tin điều trị bệnh lý tăng tiết mồ hôi tay, nách(11/07/2024)
- Phiếu thông tin bệnh tăng tiết mồ hôi tay(11/07/2024)
- Phiếu thông tin bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới(11/07/2024)
- Phiếu tóm tắt thông tin điều trị dị dạng mạch máu ngoại biên(29/06/2022)
- Phiếu tóm tắt thông tin điều trị bệnh lõm ngực bẩm sinh(29/06/2022)
- Phiếu tóm tắt thông tin điều trị phẫu thuật rút thanh nâng ngực lõm(29/06/2022)
Loading ...
