Đường mổ 4 cm, xử lý đồng thời ba van tim và taiểu nhĩ trái

|
Tin tức

Khó thở khi gắng sức, thường xuyên mệt, tức ngực và hồi hộp đánh trống ngực, người bệnh nữ 54 tuổi đến Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh (BV ĐHYD) trong tình trạng suy tim tiến triển. Kết quả thăm khám, điện tim và siêu âm tim ghi nhận người bệnh mắc bệnh lý đa van tim giai đoạn muộn, gồm hẹp hở van động mạch chủ mức độ nặng, hẹp hở van hai lá mức độ nặng và hở van ba lá mức độ nặng. Các buồng tim giãn lớn, áp lực động mạch phổi tăng cao, cho thấy tim đã chịu tình trạng quá tải kéo dài.

Người bệnh đồng thời có rung nhĩ mạn, làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối tại tiểu nhĩ trái. Sau khi được hội chẩn và đánh giá toàn diện, người bệnh được ê kíp Khoa Phẫu thuật Tim mạch chỉ định phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu để xử lý đồng thời nhiều tổn thương trong một cuộc mổ. Qua đường mổ nhỏ khoảng 4 cm, các bác sĩ tiến hành thay van động mạch chủ cơ học, thay van hai lá cơ học, sửa van ba lá và khâu bít tiểu nhĩ trái.

754497411_1062104899618000_8959778980953829519_n.jpeg
Ê kíp Khoa Phẫu thuật Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh thực hiện phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu qua đường mổ khoảng 4 cm để xử lý đồng thời ba van tim và khâu bít tiểu nhĩ trái.

Theo TS BS. Phạm Trần Việt Chương - Khoa Phẫu thuật Tim mạch BV ĐHYD, bệnh lý đa van tim là tình trạng có từ hai van tim trở lên bị tổn thương, gây hẹp, hở hoặc vừa hẹp vừa hở van. Khi nhiều van cùng bị ảnh hưởng, dòng máu qua tim bị cản trở hoặc trào ngược tại nhiều vị trí, buộc tim phải làm việc nhiều hơn để duy trì tuần hoàn. Theo thời gian, các buồng tim có thể giãn lớn, áp lực trong tim tăng và cơ tim dần suy yếu, khiến người bệnh xuất hiện khó thở, mệt khi gắng sức, hồi hộp, tức ngực và giảm khả năng vận động.

“Bệnh lý đa van tim thường phức tạp hơn tổn thương một van đơn lẻ vì nhiều bất thường cùng lúc làm thay đổi dòng máu và gia tăng gánh nặng lên tim. Nếu không được đánh giá và điều trị kịp thời, bệnh có thể tiến triển thành suy tim nặng, tăng áp phổi, rối loạn nhịp và nhiều biến chứng lâu dài”, TS BS. Phạm Trần Việt Chương cho biết.

753035096_1479521780610398_8717026659135786112_n.jpeg
TS BS. Phạm Trần Việt Chương - Khoa Phẫu thuật Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh báo cáo kỹ thuật phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu xử lý đồng thời ba van tim và khâu bít tiểu nhĩ trái tại Hội nghị chuyên sâu “Phẫu thuật tim ít xâm lấn 2026”.

Với trường hợp này, việc can thiệp trong cùng một cuộc mổ giúp giải quyết đồng thời các tổn thương van tim góp phần gây suy tim. Thay van động mạch chủ và van hai lá giúp khôi phục dòng máu lưu thông hiệu quả hơn qua tim. Sửa van ba lá giúp giảm tình trạng máu trào ngược và hạn chế quá tải lên tim phải. Khâu bít tiểu nhĩ trái được thực hiện đồng thời nhằm loại trừ vị trí thường hình thành huyết khối ở người bệnh rung nhĩ mạn, qua đó góp phần giảm nguy cơ thuyên tắc.

Trong phẫu trường được tiếp cận qua đường mổ chỉ khoảng 4 cm, phẫu thuật viên phải thao tác chính xác trên ba van tim nằm ở những vị trí giải phẫu khác nhau, đồng thời tiếp cận và khâu bít tiểu nhĩ trái. Đây là thách thức lớn bởi không gian thao tác hạn chế, trong khi mỗi vị trí tổn thương đòi hỏi một kỹ thuật xử lý riêng và phải bảo đảm hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống van tim sau khi tái lập tuần hoàn.

755808264_1926845978006685_5158251005663365162_n.jpeg
Phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của ê kíp và kỹ thuật thao tác chính xác trong không gian phẫu trường hẹp nhằm xử lý đồng thời nhiều tổn thương van tim.

Để bảo đảm an toàn, ê kíp xây dựng kế hoạch phẫu thuật chi tiết, lựa chọn trình tự xử lý từng tổn thương hợp lý và phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa trước, trong và sau mổ. Bên cạnh yêu cầu về độ chính xác, phẫu thuật viên còn phải kiểm soát thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể và thời gian kẹp động mạch chủ, bởi đây là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng hồi phục của tim và kết quả điều trị.

Theo bác sĩ, phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu trên nhiều van tim đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm, kỹ năng thao tác chính xác trong không gian hẹp và khả năng xử lý linh hoạt trong từng tình huống. Khi người bệnh được lựa chọn phù hợp và ca phẫu thuật được thực hiện tại cơ sở có đầy đủ năng lực chuyên môn, phương pháp này mang lại nhiều ưu điểm so với đường mổ mở kinh điển như hạn chế tổn thương thành ngực, giảm nhu cầu truyền máu, giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian hồi phục và bảo đảm tính thẩm mỹ nhờ đường mổ nhỏ.

754057971_2577912842639975_7829681068636289836_n.jpeg
Ê kíp Khoa Phẫu thuật Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện phẫu thuật nội soi xâm lấn tối thiểu, xử lý đồng thời nhiều tổn thương van tim và khâu bít tiểu nhĩ trái qua đường mổ nhỏ khoảng 4 cm.

Sau phẫu thuật, người bệnh hồi phục thuận lợi, tình trạng khó thở và mệt được cải thiện rõ rệt. Nhờ đường mổ nhỏ và mức độ tổn thương thành ngực được hạn chế, người bệnh ít đau, sớm vận động và trở lại các sinh hoạt cơ bản. Siêu âm tim sau mổ ghi nhận van động mạch chủ và van hai lá cơ học hoạt động tốt, không hở cạnh van; mức độ hở van ba lá giảm còn nhẹ; chức năng co bóp của tim tốt và áp lực động mạch phổi giảm. Quá trình hồi phục không ghi nhận biến chứng đáng kể, người bệnh ổn định và được xuất viện để tiếp tục theo dõi định kỳ.

Các bác sĩ lưu ý, sau phẫu thuật thay van tim cơ học, người bệnh cần sử dụng thuốc kháng đông đường uống suốt đời và xét nghiệm máu định kỳ để duy trì chỉ số đông máu trong khoảng mục tiêu. Người bệnh không được tự ý ngừng thuốc, thay đổi liều hoặc sử dụng thêm thuốc, thực phẩm chức năng khi chưa có ý kiến của bác sĩ, vì có thể làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối gây kẹt van hoặc xuất huyết.

Người dân không nên chủ quan khi xuất hiện các biểu hiện như khó thở khi gắng sức, mệt bất thường, hồi hộp, đánh trống ngực, tức ngực, phù chân hoặc giảm khả năng vận động. Đây có thể là dấu hiệu của bệnh van tim đang tiến triển và cần được thăm khám chuyên khoa Tim mạch để đánh giá kịp thời. Việc phát hiện sớm, lựa chọn đúng thời điểm can thiệp và tuân thủ theo dõi sau phẫu thuật có ý nghĩa quan trọng trong cải thiện chức năng tim, hạn chế biến chứng và giúp người bệnh sớm trở lại cuộc sống thường ngày.

Chia sẻ