Lời chia sẻ của PGS TS BS. Võ Tấn Sơn

Giáo sư Hối
Chúng tôi nhập học tại Trường ĐHYD HCM vào năm 1976, khoá đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước.
Thời ấy chúng ta đào tạo “chuyên khoa sơ bộ” nghĩa là năm thứ sáu chỉ học chuyên khoa đã chọn và được phân công, bằng tốt nghiệp ghi rõ là “bác sỹ sơ bộ chuyên khoa…”.
Tốt nghiệp cuối năm 1981, năm người học “mổ thần kinh” đều về làm việc tại khoa Ngoại thần kinh bệnh viện Chợ rẫy. Ba bạn thuộc biên chế của bệnh viện và hai thuộc trường đại học, trong đó có tôi.
Thầy Lê xuân Trung trưởng khoa ở bệnh viện kiêm chủ nhiệm bộ môn của trường. Bác sỹ Trương văn Việt - chúng tôi thường thân mật gọi là anh Việt -đảm nhiệm cương vị cấp phó của thầy. (nay là PGS TS, nguyên chủ nhiệm bộ môn, nguyên giám đốc bệnh viện Chợ rẫy)
Sau khi chúng tôi bắt nhịp được với công việc, thầy Trung tổ chức và “bắt” chúng tôi học chuyên khoa cấp một.
Trong nội dung thi tốt nghiệp có phần về ngoại tổng quát. Thầy chủ nhiệm phổ biến:” phụ trách việc này là thầy…bộ môn ngoại” Lần đầu tiên tôi được nghe China thức đến tên thầy, đó là năm 1984.
Ngày thi, thầy cho câu hỏi: “chấn thương bụng kín”.

Từ năm Y 2, tôi thường xuyên ở khoa cấp cứu bệnh viện Chợ rẫy, “đi theo các anh lớn” khám bệnh, làm chẩn đoán, phụ mổ. Đến một lúc nào đó “các anh” cho làm các thủ thuật cấp cứu, làm một số thì trong các trường hợp mổ lớn… Sau mỗi lần gặp các trường hợp bệnh lý mà mình chưa biết, tôi về thư viện đọc sách, điều gì chưa hiểu mang hỏi lại “các anh”. Với cách học như vậy, điểm thi ở trường thường không cao, nhưng thấy mình nắm vững vấn đề và trong giải quyết công việc - sau này khi đi làm
- rất có hiệu quả.
Chấn thương bụng kín là đề tài tôi rất quan tâm, gặp trong thực hành, đã đọc nhiều và bản thân cũng tự chẩn đoán được khi trực ngoại thần kinh tại khoa cấp cứu. Vì thế khi làm bài, tôi viết trong tâm trạng thoải mái, đưa chi tiết, tình huống thực tế để minh hoạ…Cũng như mọi khi, tôi nghĩ chắc chắn không bị trượt nhưng điểm sẽ không cao. Đến khi công bố, bài làm được 9, nhất lớp!
Thú thực, khi đi học (và cho đến bây giờ) tôi chỉ quan tâm đến việc tiếp thu kiến thức để có thể áp dụng được trong thực hành. Cho nên khi biết điểm lần này tôi nghĩ ngay đến người ra đề và chấm bài. Nói về “chấn thương bụng kín” vừa rất rộng nhưng lại rất cụ thể. Nếu ai đã một lần chẩn đoán được chảy máu trong ổ bụng hay vỡ tạng rỗng sau chấn thương bụng kín - đặc biệt ở người bị đa chấn thương, có giảm tri giác do chấn thương sọ não-(thời ấy chỉ có lâm sàng, x quang bụng, thử công thức máu-hématocrite và chọc dò ổ bụng) sẽ thấy việc phân loại được các thương tổn giải phẫu bệnh, các hội chứng thường gặp, diễn biến sinh lý bệnh để từ đó tìm các triệu chứng, chỉ định cận lâm sàng và có thái độ điều trị thích hợp là điểu hết sức quan trọng. Hơn nữa chấm một bài không viết theo “dàn bài thông thường” mà cho điểm cao thì đây là “ông thầy” có trình độ, kinh nghiệm thực hành và bản lĩnh “đáng nể”. Tôi biết và ấn tượng về thầy như thế đó.

Năm 1992 tôi học tại Trung tâm bệnh viện trường đại học thành phố Tours, Pháp. Trong chuyến công tác với cương vị phó hiệu trưởng kiêm trưởng khoa y, thầy ghé thăm bệnh viện và tìm tôi. Rất tiếc sáng hôm đó tôi đi làm giấy tờ ở ngoài thành phố nên change gặp được. Lúc ấy, có một đồng nghiệp của trường đang học tại một thành phố khác bị bắt giam. Chúng tôi những người đang học ở Pháp rất lo lắng và có cơ sở để nghĩ rằng nguyên nhân dẫn đến sự việc là “có vấn đề”. Đến tối, tôi gọi điện nói hết những điều tôi biết. Đề nghị thầy trong lúc có mặt ở Pháp, trao đổi với Đại sứ quán Việt nam cũng như Tổ chức Hiệu trưởng các trường đại học y nói tiếng Pháp-thầy sang dự cuộc họp hàng năm của tổ chức này. Sau khi nghe tôi nói-chắc là với thái độ bức xúc- thầy khuyên tôi phải bình tĩnh cố gắng nhìn nhận vấn đề trine mọi khía cạnh…Với tôi, đây là bài học về sự thận trọng, bình tĩnh trước những sự việc “nóng” mà một người làm ngoại khoa dễ mắc phải, chứ với thầy thì không. Câu chuyện diễn ra về sau phù hợp với thái độ của thầy lúc đó. Đồng nghiệp đã về nước an toàn và được thầy bố trí công việc rất phù hợp với năng lực và sở trường.

Vào những năm 1995 - 1996 thầy bị đau cột sống cổ và tay rất nặng. Bác sỹ Lê văn Quang, đồng môn với tôi (bây giờ là phó giám đốc BV TN), học trò và là người rất gần gũi với thầy khi ấy (đang giúp thầy xây dựng và vận hành phòng khám đại học y dược tiền than của bệnh viện ĐHYD hiện nay) nói tôi tham gia nhóm điều trị và chăm sóc cho thầy. Cũng từ đó tôi gặp thầy nhiều hơn.

Năm 2000 và 2001 tôi bị bệnh. Nằm viện thầy quan tâm, khi ra viện được cho miễn viện phí hoàn toàn, một khoản tiền không nhỏ. Đến khi phụ trách bệnh viện tôi càng thấy tấm lòng và bản lĩnh của thầy khi giải quyết cho tôi như vậy.

Năm 2006 có một lần thầy nói với tôi về một bệnh viện của Bộ Y tế tại thành phố HCM cần giám đốc vì người đương nhiệm sắp nghỉ hưu. Ý của thầy muốn tôi nhận công việc này. Tôi xúc động khi nghe thầy nói, vì nghĩ mình chỉ làm chuyên môn được thôi, việc quản lý thì “không có số”. Thầy đã nhìn thấy ở

tôi một khả năng nào đó. Sự việc tuy không thành nhưng ti luôn nhớ đến đến đánh giá của thầy về tôi để tiến cử vào một một vị trí quan trọng của ngành y tế.
Một thời gian sau, thầy bị chấn thương cột sống khi tập thể dục. Đau đớn đã “hành hạ” thầy trong một thời gian. Chúng tôi tìm mọi cách để điều trị, từ dùng thuốc thông thường đến “bơm xi măng” vào thân đốt sống (chuyên gia nước ngoài thực hiện), phong bế tại chỗ bằng thuốc tê… đều không có hiệu quả lâu dài. Rất may mắn, các đồng nghiệp ở bệnh viện FV đã mời được chuyên gia từ Thụỵ sỹ qua. Bằng sóng cao tần để phá huỷ nhánh sau của thần kinh sống, chỉ với một liệu trình thầy đã khỏi hoàn toàn cho tới nay.

Năm 2009 và 2010 tôi được bổ nhiệm làm HT và GĐBV. Lúc này thầy đã nghỉ hưu, nhưng vẫn làm cố vấn cho bệnh viện. Công việc hoàn toàn do thầy chủ động. Thế nhưng mỗi khi vắng mặt đều làm đơn xin phép mặc dù tôi đã thưa với thầy là không cần làm như vậy. Thầy rất tôn trọng lớp sau khi họ đang ở cương vị điều hành. Trong nhiệm kỳ của tôi, thầy và Giáo sư Phứơc (tôi kế nhiệm Giáo sư Tiến sỹ Đặng vạn Phước làm hiệu trưởng, tiếp tục công việc của Phó Giáo sư Tiến sỹ Phan chiến Thắng làm giám đốc bệnh viện) chưa một lần “can thiệp” vào công việc. Đây là một nét đẹp văn hoá rất đáng trân trọng ở ĐHYD mà thầy là người đầu tiên thực hiện. Hôm nay nhớ lại một vài kỷ niệm “đời thường” với thầy mới giật mình: đã hơn ba mươi năm trôi qua! Gần nửa đời người! Lớp chúng tôi nay ở tuổi nghỉ hưu còn thầy đã thuộc những người “xưa nay hiếm”!

Mọi việc rồi sẽ qua đi, điều đọng lại chính là giá trị của một con người với những đóng góp và ân tình của người đó đối với những người xung quanh. Có một ông bố khuyên con mình thế này: “con có thể sống tốt với người khác, trung thành với người ta, nhưng đừng bao giờ nghĩ là họ sẽ đối xử với con như con đã làm với họ. Nếu hiểu được điều ấy the con sẽ thanh thản trong cuộc sống và bố muốn con thấu hiểu khi bước vào đời. Đời người không biết có kiếp sau hay không. Nếu có thì cơ hội gặp lại nhau cũng rất khó khăn. Cho nên bây giờ con hãy sống tử tế với những người xung quanh…”

Khi nghĩ về GSTS Nguyễn đình Hối, nhà giáo nhân dân, nguyên Hiệu trưởng ĐHYD, Giám đốc đầu tiên của bệnh viện ĐHYD, tôi đều thấy những điều ấy hiện lên trong đầu.

PGS TS BS. Võ Tấn Sơn - Ban Giám đốc tiền nhiệm
(Đêm 13/4/2016, trên chuyến bay dài đi Frankfurt)

Chia sẻ