Phiếu tóm tắt thông tin điều trị nang bã

05/07/2022 01:17:00

1. Nang bã là gì?
- Nang bã là tổn thương lành tính, có vỏ bao, nằm dưới da, có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trên cơ thể nhưng thường gặp nhất ở mặt, da đầu, cổ và thân mình.

2. Các nguyên nhân thường gặp của nang bã?
- Nang bã có nguồn gốc từ nang lông, thường tiến triển chậm có thể đến hàng năm sau khi hình thành mới có biểu hiện trên lâm sàng. Nguyên nhân thông thường là từ sự tắc nghẽn lỗ nang. Ngoài ra nang bã cũng có thể là hệ quả của các tổn thương bề mặt dẫn đến sự di trú của tế bào biểu mô vảy vào trong nang lông và dẫn đến sự tăng sinh bất thường của tế bào biểu mô vảy sinh keratin tại đây.
- Thông thường nang bã không có triệu chứng cho đến khi nang bị tổn thương dẫn đến phản ứng viêm của cơ thể với keratin.
- Mô bệnh học có hình ảnh u nang lót biểu mô vảy phân tầng, chứa đầy chất sừng.

3. Nang bã thường xuất hiện trên những đối tượng nào?
- Thương xuất hiện ở lứa tuổi 30-40, hiếm khi gặp trước tuổi dậy thì.
- Nam nhiều hơn nữ, tỷ lệ 2:1.
- Khoảng 1% nang bã có ghi nhận sự chuyển dạng ác tính thành Carcinôm tế bào gai và đáy.
- Phần lớn nang bã là các trường hợp mắc phải đơn lẻ.
- Có thể gặp trong một số hội chứng di truyền như hội chứng Gardner và hội chứng Gorlin. Có thể nghi ngờ các hội chứng di truyền này nếu nang bã xuất hiện trước tuổi dậy thì và ở các vị trí không thường gặp.
4. Nang bã thường có biểu hiện như thế nào?
- Nang bã có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào nhưng thường gặp ở mặt, cổ, ngực, lưng trên, bìu và bộ phận sinh dục. Kích thước thường từ 0.5 đến 5 cm, căng, không di động, thường không có triệu chứng. Tuy nhiên nếu nang bị vỡ có thể sưng, nóng, đỏ, đau với chất bã màu vàng nhạt thải qua chỗ vỡ.


5. Cần làm các cận lâm sàng gì để chẩn đoán nang bã?

- Các xét nghiệm sinh hóa, huyết học thường không cần thiết.
- Cấy dịch mủ và làm kháng sinh đồ trong trường hợp nang nhiễm trùng, đặc biệt là các trường hợp nhiễm trùng tái phát hoặc kém đáp ứng với kháng sinh thường quy.
- Hình ảnh học: siêu âm, X-Quang, CT-Scan hoặc MRI giúp khảo sát kích thước, vị trí và tính chất của nang bã. Siêu âm thường là hình ảnh học đầu tay. Các hình ảnh học khác được sử dụng khi lâm sàng đánh giá là cần thiết, đặc biệt khi nang bã ở những vị trí không thường gặp như tuyến vú, xương, nội sọ.

6. Nang bã được điều trị như thế nào?
a. Nguyên tắc điều trị

- Nang bã nhỏ, không triệu chứng có thể không cần điều trị.
- Phương pháp điều trị hiệu quả nhất là cắt trọn ổ sang thương với vỏ bao mà không làm vỡ nang.

b. Điều trị cụ thể
- Không cần sử dụng kháng sinh trong trường hợp nang bã còn nguyên vẹn, không có dấu hiệu nhiễm trùng. Trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng có thể sử dụng kháng sinh phổ rộng đường miệng và điều chỉnh theo lâm sàng và kết quả kháng sinh đồ.
- Điều trị ngoại khoa có thể thực hiện tại phòng tiểu phẫu, lấy trọn ổ sang thương mà không làm vỡ vỏ bao. Gây tê xung quanh nang bã với thuốc tê có - Epinephrine để giảm chảy máu, chú ý không tiêm vào trong nang.
- Rạch da hình Ellip, để tăng tính thẩm mỹ cần tính toán để đường mổ sau cùng có thể giấu trong các nếp da, vị trí ít nhìn thấy.
- Phẫu thuật lấy trọn sang thương có thể trì hoãn nếu nang đang nhiễm trùng vì phẫu thuật lúc này sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, vết thương không lành và nang tái phát. Trường hợp này có thể rạch dẫn lưu và điều trị như một ổ áp xe.

7. Những vấn đề cần lưu tâm khi điều trị nang bã là gì?
- Nang bã là sang thương lành tính, tuy nhiên một số hiếm trường hợp ác tính đã được ghi nhận. Carcinôm tế bào gai là thường gặp nhất chiếm khoảng 70% các trường hợp ác tính, theo sau là Carcinôm tế bào đáy. Nhìn chung tỷ lệ ác tính hiếm gặp tuy nhiên phẫu thuật viên cần đánh giá kỹ lâm sàng, sau phẫu thuật nang bã cần được cắt và quan sát đại thể xem có hình ảnh đặc trưng với chất bã màu vàng nhạt hay không. Gửi giải phẫu bệnh để xác định chẩn đoán nếu cần thiết.
- Biến chứng của vỡ nang bao gồm: sưng, đỏ, đau.
- Biến chứng của phẫu thuật bao gồm: phản ứng với thuốc gây tê, chảy máu, nhiễm trùng, sẹo xấu.

Các tin đã đăng