Phiếu thông tin bệnh loét tỳ đè

10/07/2024 09:16:00

1. Tìm hiểu về loét tỳ đè:
* Loét tỳ đè là gì:

Loét tỳ đè được định nghĩa là tổn thương gây ra do hậu quả của sự đè ép liên tục làm tổng thương các mô bị đè ép (Bergstrom et al 1992), sự đè ép lâu lên mô, hệ thống collagen mao mạch và mạch bạch huyết sẽ làm bít tắc dòng máu, đau, hoại tử và tạo mảng mục của mô bị chết.
  • Vị trí loét tỳ đè:
Các vị trí loét tỳ đè hay gặp là vùng xương cùng, gót chân, khuỷu, bả vai, sau gáy, tai, mặt ngoài đùi; 68.7% các vết loét xảy ra xương cùng cụt và gót chân.
  • Nguyên nhân gây loét tỳ đè:
Loét khởi đầu khi có áp lực đủ lớn tỳ đè vào vùng da, nhất là những vùng da sát xương, áp lực này lớn hơn áp lực mao mạch bình thường (32mmHg) gây rối loạn chuyển hóa và hoại tử tế bào.

Quá trình này ban đầu có thể tự bù trừ bằng sự giãn mạch chủ động tăng cường tưới máu tại chỗ. Nếu lực tỳ đè lên đến 70mmHg, tổn thương tổ chức sẽ không hồi phục.

Một số yếu tố khác góp phần hình thành loét tỳ đè là sự mất cảm giác, tiếp xúc môi trường ẩm ướt, tiêu tiểu không tự chủ, mất khả năng vận động …


* Phân loại:
Độ 1 Vùng da tỳ đè nổi lên vết rộp màu hồng (dấu hiệu báo trước của loét tỳ đè)
Độ 2 Tổn thương không hoàn toàn chiều dày lớp da bao gồm thượng bì và lớp đáy (loét nông nhìn như vết trầy hay phồng rộp)
Độ 3 Tổn thương hoàn toàn chiều dày, bề dày của lớp da, tổ chức dưới da đã bị tổn thương
Độ 4 Hoại tử toàn bộ lớp da có khi giới hạn, có khi lan rộng đến cả vùng cơ, xương, khớp



2. Xử lý và điều trị, chăm sóc vết loét tỳ đè:
Theo thống kê, loét tỳ đè độ 1 và 2 có thể chữa lành nếu biết cách xử lý và chăm sóc đúng cách. Loét độ 3 và 4 cần can thiệp ngoại khoa, cắt gọt vùng cơ và xương đã bị hoại tử sau đó đóng kín vết loét.


Một số phương pháp hỗ trợ khác như : Kích thích điện, Laser liệu pháp, Liệu pháp kích thích sóng ngoài cơ thể ( Extracorporeal Shock Wave therapy), Liệu pháp Oxy tại chỗ

2.1. Xử lý và điều trị cụ thể vết loét tỳ đè cấp độ 1 và 2:
  • Dùng gạc vô trùng lau chùi nhẹ nhàng vết loét để lại bỏ dịch mô, mủ, các chất thải sinh ra trong chuyển hóa, tế bào chết, tế bào hoại tử vì chúng gây cản trở quá trình làm lành vết thương. Chấm nhẹ để làm sạch mà không gây tổn thương vết loét.
  • Sử dụng nước muối sinh lý 0,9% để rửa sạch vết loét (tuyệt đối không nên sử dụng các dung dịch kháng khuẩn vì nó có thể phá hủy các tế bào bình thường khác).
  • Băng và bảo vệ vết loét: Hiện nay, bạn có thể sử dụng băng vết thương để bảo vệ vết loét ngăn thấm nước, ngừa vi khuẩn, làm lành nhanh vết loét . Có một số băng gạc sinh học để kháng khuẩn tại chỗ và giữ ẩm vết thương giúp vết thương nhanh lành.
  • Xoa bóp xung quanh vết loét để cải thiện tuần hoàn khu vực bị tổn thương.
2.2.  Xử trí và điều trị cụ thể vết loét ở cấp độ 3 và 4:
  • Ở 2 cấp độ sau cùng, khi đã có tổn thương sâu và hoại tử, việc can thiệp ngoại khoa là cần thiết. Cần cắt bỏ những chỗ có da lột và mô hoại tử, việc cắt lọc nhằm loại bỏ các tổ chức hoại tử và bị nhiễm khuẩn, có thể thực hiện cắt gọt ngay tại giường hay tại phòng mổ. Cắt gọt sẽ làm rộng vết loét một khoảng cho phép, nhưng nó lại làm giảm độ tập trung vi khuẩn ở vết thương và loại bỏ mô hoại tử, việc cắt lọc làm tăng cường quá trình liền thương và giảm nguy cơ nhiễm trùng lan rộng vì các tổ chức hoại tử rất dễ nhiễm khuẩn và là nguyên  nhân gây ra viêm tế bào, tổn thương ăn sâu hơn vào xương.
  • Biện pháp ghép da có thể được chỉ định để sử dụng, tuy nhiên cũng chỉ áp dụng được  trong 30% trường hợp, thường ở những tổn thương khu trú và nông
  • Các phương pháp khác như là sử dụng các vạt da cân, vạt da cơ để che phủ các ổ loét rộng, ưu điểm của các vạt da cơ là cung cấp lượng lớn tổ chức có nguồn cấp máu nuôi tốt, tính chất tổ chức ổn định, giảm đến mức tối thiểu các biến đổi chức năng ở vùng kế cận.
Cách tốt nhất để tránh được những vết loét và biện pháp can thiệp ngoại khoa ở những bệnh nhân liệt, nằm lâu là dự phòng và xử lý vết loét ở những dấu hiệu đầu tiên.
 

Các tin đã đăng