Phiếu tóm tắt thông tin điều trị nhồi máu cơ tim

11/02/2022 10:19:00

Nhồi máu cơ tim là biến cố nặng, cấp cứu của bệnh lý động mạch vành, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tim mạch và các biến chứng nặng về sau. Hiện đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị hiệu quả nhồi máu cơ tim, nhưng vẫn là một thể bệnh rất nặng và cần được quan tâm.

1. Nhồi máu cơ tim là gì?

Tim là cơ quan có vai trò bơm máu đi nuôi cơ thể. Tim được nuôi dưỡng từ 2 nhánh mạch máu chính là động mạch vành phải và động mạch vành trái.
Nhồi máu cơ tim xảy ra khi đột ngột tắc hoàn toàn hoặc một phần 1 trong 2 nhánh mạch máu này hoặc cả 2 nhánh. Nếu một vùng cơ tim bị chết do thiếu máu, lúc này chức năng bơm máu của tim không còn toàn vẹn như trước gây nên các hậu quả như suy tim, sốc tim, đột tử do tim,...


2. Nguyên nhân nhồi máu cơ tim?
Nguyên nhân thường gặp nhất của nhồi máu cơ tim là xơ vữa động mạch. Tình trạng này xảy ra là do mảng xơ vữa tích tụ dần theo thời gian và bám vào thành mạch máu, thành phần cấu thành bao gồm cholesterol, canxi, mảnh vỡ tế bào.
Từ khoảng 30 tuổi, trong cơ thể người bệnh bắt đầu tiến trình hình thành và phát triển mảng xơ vữa. Quá trình này diễn ra từ vài năm đến vài chục năm.
Ở những đối tượng có một số yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, hút thuốc lá, rối loạn lipid máu, đái tháo đường góp phần thúc đẩy tổn thương mạch máu theo thời gian. Chính những rối loạn này làm thành mạch máu dễ bị các phân tử cholesterol lắng đọng và bám vào.
Nơi mảng xơ vữa bám vào thành mạch bị viêm, đến một thời điểm mảng xơ vữa này bị bong tróc và nứt vỡ thúc đẩy hình thành cục máu đông làm bít tắc lòng mạch máu. Khi lòng mạch bị bít tắc dẫn đến vùng cơ tim phía sau không được đưa máu đến nuôi hậu quả gây hoại tử và chết vùng cơ tim đó gây nên nhồi máu cơ tim.

3. Yếu tố nguy cơ dẫn đến nhồi máu cơ tim?
Yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được: Tuổi, giới, di truyền (gia đình có người bị bệnh tim mạch khá sớm)
Yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được: Tăng huyết áp, rối loạn lipid (mỡ) máu, hút thuốc lá , thừa cân, béo phì,  giảm dung nạp đường/ đái tháo đường, lười vận động

4. Triệu chứng nhồi máu cơ tim
Một số trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra đột ngột và dữ dội. Còn hầu hết trường hợp đều khởi phát chậm với cảm giác hơi đau hoặc khó chịu ở ngực. Dưới đây là một số dấu hiệu có thể nhận biết nhồi máu cơ tim đang xảy ra:
- Cảm giác như bị đè nặng, bó chặt, đau nhói hoặc chèn ép ở ngực hoặc hai cánh tay. Cảm giác này có thể lan đến vai, cổ, hàm hoặc lưng.
- Khó thở. Có thể kèm hoặc không kèm theo tức ngực.
- Buồn nôn, khó tiêu, ợ nóng hoặc đau bụng.
- Khó thở.
- Đổ mồ hôi lạnh.
- Mệt mỏi.
- Choáng váng hoặc chóng mặt đột ngột.
Tương tự như nam giới, triệu chứng nhồi máu cơ tim thường gặp nhất ở nữ giới là đau hoặc tức ngực. Tuy nhiên so với nam giới, nữ giới có nhiều khả năng có thêm các triệu chứng thường gặp khác, đặc biệt là khó thở, buồn nôn/nôn ói và đau lưng hoặc đau hàm.

5. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim
Khi người bệnh đến bệnh viện với các triệu chứng như đã mô tả ở trên kèm theo các triệu chứng khác ghi nhận được lúc thăm khám, các bác sĩ sẽ tiến hành một số các xét nghiệm chuyên sâu giúp hỗ trợ trong chẩn đoán bệnh:
Điện tâm đồ:
Trong cơn đau có thể thấy sự biến đổi của đoạn ST: thường gặp nhất là đoạn ST chênh xuống (nhất là kiểu dốc xuống), T âm nhọn, đảo chiều, ST có thể chênh lên thoáng qua. Nếu ST chênh lên bền vững hoặc mới có xuất hiện block nhánh trái thì ta cần phải nghĩ đến nhồi máu cơ tim.
Có tới trên 20% người bệnh không có thay đổi tức thời trên điện tâm đồ, nên làm điện tâm đồ nhiều lần.
Các chất chỉ điểm sinh học cơ tim:
Các chất chỉ điểm sinh học cơ tim thường được dùng để chẩn đoán, phân tầng nguy cơ và theo dõi là Troponin T hoặc I. Tốt nhất là các xét nghiệm siêu nhạy (như TroponinT hs hoặc I hs).
Siêu âm tim
Siêu âm tim giúp đánh giá rối loạn vận động vùng (nếu có), đánh giá chức năng thất trái (đặc biệt sau nhồi máu cơ tim) và các bệnh lý thực tổn van tim kèm theo hoặc giúp cho việc chẩn đoán phân biệt (với các nguyên nhân gây đau ngực khác).
Các nghiệm pháp gắng sức (điện tâm đồ, siêu âm tim gắng sức)
Các nghiệm pháp này chỉ đặt ra khi người bệnh ở nhóm nguy cơ thấp, lâm sàng không điển hình, không có thay đổi trên điện tâm đồ và đã điều trị ổn định (sau 5 ngày).
Chụp động mạch vành
Chỉ định ở nhóm người bệnh có nguy cơ rất cao, cao hoặc trung bình. Thời gian chụp tùy mức độ phân tầng nguy cơ.

6. Điều trị nhồi máu cơ tim
Điều trị ban đầu
Chỉ định các biện pháp ban đầu và các thuốc cơ bản: giảm đau, thở ôxy nếu cần, chống ngưng kết tiểu cầu kép (aspirin, ticagrelor, prasugrel, clopidogrel),  chống đông (enoxaparin, bivalirudin, fondaparinux, heparin không phân đoạn ) và các biện pháp điều trị nội khoa tối ưu khác như thuốc chẹn beta giao cảm, chẹn kênh calci, ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể AT1. Tùy theo tình trạng bệnh lý cuả người bệnh mà bác sĩ sẽ có lựa chọn nhóm thuốc trên để điều trị nhồi máu cơ tim.
Xác định chiến lược và thời điểm điều trị can thiệp hay điều trị bảo tồn.

Điều trị can thiệp
Can thiệp mạch vành (PCI): Đây là một thủ thuật thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa can thiệp tim mạch. Trong thủ thuật người bệnh vẫn còn tỉnh và có thể quan sát tiến trình thủ thuật trên màn hình video. Bác sĩ sẽ tiêm thuốc tê tại vị trí đùi hoặc cổ tay của người bệnh. Hệ thống ống dẫn được luồn tại đùi hoặc cổ tay theo mạch máu về hướng về tim. Dựa vào hình ảnh thu được trên màn hình chụp, các bác sĩ tìm được vị trí tắc đồng thời thực hiện đặt stent (ống thông) vào mạch máu bị tắc. Stent bung lên giúp máu lưu thông lại bình thường.
Mổ bắc cầu mạch vành (CABG): Người bệnh được gây mê và phẫu thuật tiến hành trong phòng mổ tại khoa Phẫu thuật tim. Những đoạn mạch máu được lấy từ những nơi khác trong cơ thể được làm cầu nối phía trước và sau nơi tắc giúp máu đi theo đoạn mạch máu ghép đến nuôi cơ tim phía dưới. Đoạn mạch máu được lấy đi chỉ là một phần rất nhỏ trong hệ thống mạch máu phong phú của cơ thể nên sẽ không làm ảnh hưởng đến hoạt động của những cơ quan này.

7. Phòng ngừa nhồi máu cơ tim
Sau giai đoạn cấp được điều trị dù tốt, không có nghĩa người bệnh khỏi bệnh hoàn toàn. Người bệnh sẽ sống chung với bệnh lý động mạch vành và nguy cơ tái phát rất cao nếu không có chế độ điều trị, dự phòng thứ phát hợp lý. Người bệnh cần được giáo dục sức khỏe, nhận thức các triệu chứng bệnh, các yếu tố nguy cơ và việc tuân thủ điều trị.
Người bệnh nên tìm hiểu kỹ về căn nguyên gây bệnh để có hướng phòng tránh tốt nhất cho bản thân và gia đình.
Vai trò của một chế độ ăn uống cho người bị nhồi máu cơ tim
và luyện tập thể dục trong phòng ngừa bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch đã được chứng minh hiệu quả. Thói quen ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên sẽ làm giảm tỷ lệ mắc nhiều yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành. Đối với người bệnh đã can thiệp thay đổi lối sống tối ưu nhưng vẫn chưa kiểm soát được các yếu tố nguy cơ, người bệnh nên tuân thủ điều trị theo chỉ định của các bác sĩ chuyên khoa.
Điều chỉnh các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được: ngưng hút thuốc lá, giảm cân nếu béo phì, tăng cường tập luyện thể dục thể thao.
Kiểm soát huyết áp nếu có tăng huyết áp
Điều trị rối loạn lipid máu
Kiểm soát đường huyết và HbA1c cho người bệnh đái tháo đường

Các tin đã đăng