Điều cần biết về bệnh viêm cột sống dính khớp

A23-058
ThS BS.
Nguyễn Đông Lập
Khoa Nội cơ xương khớp

1. Bệnh viêm cột sống dính khớp là gì?

Bệnh viêm cột sống dính khớp (VCSDK) thuộc nhóm bệnh viêm khớp - cột sống là một bệnh lý viêm hệ thống mạn tính với biểu hiện lâm sàng đa dạng. Đặc trưng là tổn thương khớp cùng chậu và tổn thương đốt sống. Do giai đoạn mưng bệnh có thể gây cứng đốt sống. Dấu hiệu biểu hiện ban đầu là đau vùng hông lưng. Một số trường hợp có thể biểu hiện viêm khớp ngoại vi, hoặc viêm các điểm bám gân. VCSDK gặp nhiều ở nam giới (nam gấp 2-3 lần nữ), độ tuổi phổ biến mắc bệnh từ 20-30 tuổi.

Nguyên nhân bệnh VCSDK hiện vẫn còn chưa rõ ràng, tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy bệnh có thể liên quan đến yếu tố di truyền trong đột biến HLA-B27 là dấu chứng minh có liên quan đến cơ chế bệnh sinh.

2. Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Trong giai đoạn đầu của bệnh, các triệu chứng thường nhẹ nên khó được chẩn đoán. Các triệu chứng hay gặp:

  • Đau lưng hoặc vùng mông mạnh kéo dài, khó phát ở người trẻ. Với đặc điểm đau không giảm khi nghỉ ngơi, giảm đau khi vận động, thường đau nhiều về đêm gần sáng.

  • Đau, viêm các khớp như khớp háng, gối, cổ chân… mà không tìm được nguyên nhân nào khác.

  • Về lâu dài, bệnh có thể dẫn đến biến dạng khớp và cột sống: dính cứng cột sống cổ, gù cột sống lưng, hạn chế các động tác của cột sống, dính khớp háng, khớp gối gây đi lại khó khăn và giảm chức năng cơ thể.

Các triệu chứng khác như: Viêm điểm bám tận của gân, lòng xương, viêm màng bồ đào, viêm ruột, viêm van động mạch chủ, sét, gầy sút, teo cơ...

3. Các xét nghiệm:

  • Không có xét nghiệm cụ thể nào là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định VCSDK, bác sĩ sẽ chẩn đoán dựa vào nhiều yếu tố.

  • Các xét nghiệm cơ bản về huyết học, chức năng gan, thận, chỉ số viêm: CRP, VS (ESR), xét nghiệm HLA-B27, hay một số xét nghiệm khác trong một số trường hợp để chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tự miễn gây viêm khớp khác.

  • Chẩn đoán hình ảnh

  • X-quang thông thường: biểu hiện trên phim X-quang của bệnh VCSDK thường ở giai đoạn muộn. Tổn thương trên X-quang chủ yếu ghi nhận ở đốt sống, khớp cột sống. Các dấu hiệu tổn thương ở khớp cột sống bao gồm rộng khe khớp, ở giai đoạn sau có thể thấy tổn thương xơ xương lan cận.

  • MRI sàng khảo sát khớp cùng chậu, cột sống có thể phát hiện sớm các tổn thương viêm khớp cùng chậu, tổn thương cột sống với hình ảnh điển hình phù từ xương ở góc trước và sau của thân sống, cũng như xung quanh đĩa đệm.

4. Các phương pháp điều trị VCSDK

Mục tiêu các liệu pháp điều trị là làm ngừng tiến triển của bệnh, cải thiện mục tiêu của bệnh để bao gồm giảm viêm đau, cải thiện chức năng vận động khớp, có sức, ngừng ngứa và giảm nguy cơ mất chức năng, tàn phế, bình thường hóa hoặc bảo tồn hoạt động thể chất, tăng tác dụng phục hồi và kiểm soát bệnh động mạch.

Việc điều trị cần phải can thiệp sớm ngay khi chẩn đoán bệnh, kiểm soát bệnh chính theo mục tiêu nhằm đạt được lợi ích lâu dài. Quản lý nguyên nhân gồm nhiều biện pháp nhằm giúp phục hồi sức khỏe, điều trị không dùng thuốc, điều trị phẫu thuật và các biện pháp can thiệp.

4.1. Điều trị không dùng thuốc

  • Giáo dục sức khỏe, giúp người bệnh hiểu rõ bản chất của bệnh, điều chỉnh dinh dưỡng và lối sống và tập luyện hợp lý. Ngừng hút thuốc là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất. Hướng dẫn cho người bệnh tập các vận động phù hợp, duy trì tư thế cột sống và khớp và các tư thế thích hợp.

  • Trong giai đoạn bệnh tiến triển cần tránh vận động nhiều, nghỉ ngơi, khuyến khích các môn thể thao như bơi lội, đạp xe.

  • Một số phương pháp như siêu âm, thiền ngoài trời, thăm khám, tắm bùn, xoa bóp có thể giúp giảm triệu chứng đau, tăng cường sức khỏe trong trường hợp hở lòng xương hoặc cột sống.

4.2. Thuốc Điều trị triệu chứng

Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Dùng là nhóm thuốc điều trị đầu tiên và và loại cắt đau chính cho người bệnh VCSDK khi có triệu chứng cột sống chính. NSAIDs có thể giảm viêm và giảm đau khi các biện pháp tập luyện không đủ.

4.3. Một số thuốc điểu trị hỗ trợ khác

  • Thuốc giảm đau: ví dụ như như paracetamol, có thể giúp qua đau nếu thuốc giảm viêm giữ tác dụng lâu nhất phát bệnh.

  • Thuốc giãn cơ: có tác dụng tốt trong những trường hợp co cứng cơ nhiều.

  • Glucocorticoid: Nếu chỉ có một khớp sưng, viêm nghiêm trọng, bác sĩ có thể sẽ tiêm glucocorticoid trực tiếp vào khớp.

4.4. Thuốc điều trị đặc hiệu

  • Thuốc chống thấp có diện làm thay đổi tiến triển của bệnh (DMARD): (sulfasalazine, methotrexate) thường được dùng cho người bệnh VCSDK có tổn thương khớp ngoại vi và chưa viêm. Những thuốc này có tác dụng giảm sự hủy hoại khớp. Tuy nhiên ít có hiệu quả lâu trên tổn thương cứng.

  • Liệu pháp sinh học: (thuốc kháng TNF-a hay kháng IL-17, kháng Interleukin...) là những thuốc sinh học tác động trực tiếp vào tế bào miễn dịch, các cytokine gây viêm trong bệnh VCSDK. Thuốc sinh học tác động vào cơ chế bệnh sinh, giúp kiểm soát tình trạng viêm khớp, tranh tổn thương khớp, hạn chế tổn thương khớp.

  • Thuốc JAK: Đây là nhóm thuốc mới, thuốc chống viêm có hiệu quả trong điều trị VCSDK. Nhóm thuốc này đã được FDA và các cơ quan có thẩm quyền cho phép dùng trong điều trị VCSDK khá an toàn.

5. Theo dõi

  • Các bác sĩ chuyên khoa sẽ theo dõi tình trạng bệnh và đáp ứng điều trị một cách đều đặn qua các thang điểm đánh giá dựa vào triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm các chỉ số viêm.

  • Mỗi lần tái khám, bác sĩ sẽ tham khám và có thể chỉ định một số xét nghiệm để đánh giá chức năng gan thận, kiểm tra tác dụng phụ của thuốc điều trị, và quản lý các bệnh phối hợp.

6. Người bệnh được bác sĩ giải thích về tình trạng bệnh:

  • VCSDK là bệnh mãn tính cần được theo dõi và điều trị lâu dài.

  • Các phương pháp điều trị bệnh.

  • Các biến chứng của bệnh và biến chứng của việc không điều trị đầy đủ.

to roi dieu can biet ve benh viem cot song dinh khop_1.webp
to roi dieu can biet ve benh viem cot song dinh khop_2.webp
Share

Related Posts